Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Cô gái gốc Việt thuê người giết cha mẹ sau khi lộ kết quả học tập giả

Đã có lúc, trong mắt cha mẹ, Jennifer Pan là một cô con gái "vàng" với bảng thành tích học tập xuất sắc. Tuy nhiên, khi sự thật bị phanh phui, niềm tự hào ấy lại biến thành bi kịch của gia đình khi chính cô giết hại cha mẹ mình. 
pan-8556-1438076193.jpg
Jennifer Pan. Ảnh: WP
Cô gái 28 tuổi ở thành phố Markham của Canada là một học sinh hạng A ở trường Công giáo, giành được nhiều học bổng và thậm chí sớm được nhận vào trường đại học. Theo nguyện vọng của cha mình, Jennifer tốt nghiệp đại học Toronto, chuyên ngành dược danh giá và làm việc ở một phòng kiểm nghiệm máu của bệnh viện.
Những thành tích của Jennifer khiến cha mẹ cô, bà Bich Ha và ông Huei Hann Pan, rất đỗi tự hào. Đôi vợ chồng từ Việt Nam sang Canada làm lao động ở một xưởng sản xuất phụ tùng ôtô. Bởi vậy, họ luôn muốn con cái mình có một tương lai xán lạn hơn cuộc đời vất vả mà họ đã trải qua.
Tuy nhiên, họ không hay biết rằng tất cả những gì mà Jennifer đạt được đều chỉ là giả dối. Cô trượt tốt nghiệp trung học và cũng không học đại học Toronton như đã nói với cha mẹ mình.
Trong câu chuyện được đăng tải trên tạp chí Toronto Life tuần trước, bằng các tài liệu của tòa án và các cuộc phỏng vấn, phóng viên Karen Ho đã kể lại chi tiết câu chuyện về người bạn học cùng lớp với mình, từ một học sinh tiểu học khôn ngoan đến một kẻ nói dối ma lanh và giết hại cha mẹ mình khi bị lộ tẩy. 
Ho cho hay ở trường, Jennifer là một học sinh thân thiện, chơi với nhiều bạn bè khác nhau. Ngoài giờ học, cô đi bơi và luyện võ wushu. 
Tuy nhiên, Ho sau đó phát hiện ra rằng, sự cởi mở của Jennifer chỉ là vỏ bọc nhằm che giấu sự tự ti và e ngại bên trong. Một trong những dấu hiệu mà ít người nhận thấy đó là những vết cắt trên cổ tay của Jennifer.
"Cha mẹ của Jennifer của nghĩ rằng con gái họ là một học sinh toàn điểm A. Sự thật là cô ấy chỉ toàn đạt điểm B, một kết quả đáng trân trọng với hầu hết học sinh nhưng không thể chấp được trong gia đình khắt khe của cô ấy", Ho cho hay.
Jennifer đã tự tô vẽ cho các báo cáo kết quả học tập trong suốt thời gian học trung học. Cô được nhận vào trường đại học Ryerson ở Toronto nhưng đến năm cuối thì thi trượt và không thể tốt nghiệp. Trường đại học này đã rút lại hồ sơ nộp học của Jennifer. 
Để tránh bị cha mẹ phát hiện, cô nói dối rằng mình dự định theo học hai năm chuyên ngành khoa học ở Ryerson, sau đó mới chuyển sang ngành dược của đại học Toronto theo mong muốn của cha. Ông Hann rất vui và đã tặng cho con gái một chiếc latop. Jennifer tự gom sách vở cũ và mua các đồ dùng học tập khác. Vào tháng 9, cô giả vờ đi học như một sinh viên năm nhất.
Đến kỳ nộp học phí, Jennifer lại tự bịa ra các giấy tờ thông báo rằng cô được chương trình hỗ trợ sinh viên cho vay tiền và sẽ giành học bổng 3.000 USD. Hàng ngày, Jennifer cầm cặp sách và bắt tàu điện đi xuống trung tâm. Cha mẹ tưởng rằng con gái đến trường, nhưng thực tế, cô chỉ đến các thư viện công cộng.
Khi lễ tốt nghiệp của đại học Toronto sắp diễn ra, Jennifer lại nói dối với cha mẹ rằng ban tổ chức không có đủ vé và họ phải ở nhà.
Tuy nhiên, Jennifer không che giấu được sự thật mãi mãi. Ông bà Pan cuối cùng cũng nhận thấy những bất thường ở con gái và bắt đầu theo dõi cô để rồi bàng hoàng khi phát hiện ra sự thật. Khi Jennifer thú nhận mọi chuyện cũng là lúc cuộc sống của gia đình cô đảo lộn.
Bà Ha và ông Hann đề cao tầm quan trọng của việc học tập và cấm Jennifer cũng như anh trai cô, Felix, tham gia các cuộc tụ tập, tiệc tùng bên ngoài. Hẹn hò cũng điều họ bị cấm đoán. Trong ngôi nhà của họ chỉ trưng bày những giải thưởng mà Jennifer đạt được.
Vì thế, khi biết rằng tất cả những nỗ lực đều đổ xuống sông bể, họ càng giận dữ và cấm đoán cô con gái đã lớn của mình. Không điện thoại. Không latop. Không còn những cuộc hẹn hò với bạn trai của Jennifer, Daniel Wong. 
Điều này dẫn Jennifer đến ý nghĩ rằng cuộc sống của cô sẽ tốt hơn nhiều nếu không có cha mẹ. Với sự giúp đỡ của Daniel, cô lên kế hoạch sát hại bà Ha và ông Hann, hai người mà cô cho rằng đã làm cho cuộc sống của cô giống như bị "quản thúc tại gia".
Jennifer vờ là nhân chứng vô tội khi ba tên côn đồ do chính cô thuê là David Mylvaganam, Lenford Crawford và Eric Carty bắn chết bà Ha và khiến ông Hann bị thương nặng ngay tại nhà. Sau đó, cô gọi cho 911 và giả vờ tỏ ra hoảng hốt, sợ hãi.
Ban đầu, vụ việc được cho là một vụ giết người cướp của. Tuy nhiên, vài tuần sau đó, Jennifer và bạn trai bị bắt. Đó cũng là lần cuối cùng Jennifer có cơ hội dối trá. 
Hồi tháng một, một tòa án ở Ontario đã kết án tù chung thân, không ân xá trong 25 năm, với Jennifer và ba đồng phạm gồm Wong, Mylvaganam và Crawford vì tội danh giết người cấp một và âm mưu giết người. Carty, kẻ chưa nhận tội, được xét xử riêng.
Ngôi nhà của gia đình Pann tại thành phố Markham. Ảnh: smh
Ngôi nhà của gia đình Pan tại thành phố Markham. Ảnh: Smh
Áp lực kỳ vọng của cha mẹ
Kể từ khi được đăng tải vào tuần trước, câu chuyện về gia đình Jennifer được chia sẻ rộng rãi trên Facebook và đánh trúng vào tâm lý của các thanh thiếu niên nhập cư gốc Á ở Canada và Mỹ. Họ đổ lên mạng xã hội và chia sẻ phần nào áp lực với Jennifer, khi cũng phải đối mặt với những kỳ vọng từ phía cha mẹ và nỗi lo sợ khi không đạt được những mục tiêu này.
Chuyện giấc mộng đổi đời của người nhập cư châu Á bị biến thành bạo lực đã được nhắc đến nhiều lần trong các cuộc tranh luận của cộng đồng này những năm gần đây. 
Bà Jennifer Lee, giáo sư xã hội học thuộc đại học California Irvine, chuyên gia về người Mỹ gốc Á, cho rằng sẽ là sai lầm khi chỉ từ một vụ việc mà "vơ đũa cả nắm" và kết luận rằng những hành động của Pan do cách nuôi dạy con hà khắc của người châu Á mà ra. Theo bà, không phải tất cả trẻ em gốc Á đều phải hứng chịu áp lực như trên từ cha mẹ và có tinh thần bất ổn.
"Câu chuyện này ám ảnh tôi vì cuộc đời của tôi cũng tương tự cô ấy. Tôi xuất thân từ một gia đình gốc Á mang nặng tư tưởng của người nhập cư. Tôi là một học sinh giỏi ở trường trung học, nhận học bổng đại học và được lựa chọn trường nào tôi muốn. Và sau đó mọi thứ lao dốc", một người chia sẻ trên mạng xã hội Reddit. 
Anh cho biết mình cũng ở nhà, giả vờ có một công việc tốt. "Cha mẹ đã cho tôi mọi thứ, hy sinh rất nhiều để tôi thành công và đây là kết quả", anh kể.
Nhưng không giống như Jennifer Pan, anh cho hay: "Tôi chấp nhận những điều kiện của cha mẹ để chỉnh đốn cuộc sống của mình. Tôi không thông cảm với Jennifer Pan vì tôi thấy mình cũng ở trong trường hợp của cô ta".
"Sau khi cha mẹ phát hiện ra, cha của cô ta cũng phản ứng giống cha tôi, mẹ cô ta cũng thế. Tôi đã tận dụng cơ hội này để gây dựng lại cuộc đời mình, còn cô ta thì phá hỏng nó", anh viết.

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Xác minh vụ hacker Việt bị kết án tù ở Mỹ

Cơ quan chức năng Việt Nam đang phối hợp với phía Mỹ làm rõ thông tin công dân Ngô Minh Hiếu bị tuyên án 13 năm tù vì thực hiện hàng loạt vụ thâm nhập máy tính và đánh cắp thông tin trái phép. 
hieu-2385-1437046996.jpg
Ngô Minh Hiếu vừa bị tuyên án 13 năm tù ở Mỹ. Ảnh: VOA
"Các cơ quan đại diện Việt Nam tại Mỹ đang phối hợp với các cơ quan chức năng ở trong nước cũng như cơ quan chức năng sở tại làm rõ thêm các thông tin liên quan đến vụ việc này", phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình cho biết trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay. "Bộ Ngoại giao Việt Nam đã chỉ đạo các cơ quan đại diện ở Mỹ tiến hành các biện pháp để có thể thăm lãnh sự và làm sao đảm bảo cao nhất quyền của công dân này".
Theo KrebsOnSecurity, Minh Hiếu, 25 tuổi, ngày 14/7 bị tuyên án 13 năm tù với tội danh ăn cắp thông tin cá nhân của 200 triệu người Mỹ thông qua hàng loạt vụ thâm nhập quy mô lớn.
Tòa án New Hampshire cho hay từ năm 2007 đến 2013, Hiếu đã sử dụng máy tính tại Việt Nam để thâm nhập trái phép vào nhiều hệ thống khác nhau nhằm lấy trộm số thẻ an sinh xã hội, thông tin về các tài khoản ngân hàng, thẻ tín dụng, tên, địa chỉ, số điện thoại, ngày sinh... của hàng triệu công dân Mỹ.
Sau đó, Hiếu và đồng bọn bán lại thông tin cho các nhóm tội phạm trực tuyến. Ngày 26/11/2011, nhóm của Hiếu chào gói 22.000 thẻ tín dụng với giá 5.000 USD và 50.000 thẻ tín dụng với giá 10.000 USD. Hiếu kiếm được tổng cộng gần 2 triệu USD.
Đặc vụ Mỹ đã dụ Hiếu rời khỏi Việt Nam vào tháng 2/2013 thông qua một đề nghị làm ăn. Khi vừa tới Guam, Hiếu lập tức bị bắt và được đưa tới New Hampshire
.

Brunei xem xét thả sớm hai ngư dân Việt

Hai ngư dân Việt ở tuổi vị thành niên sẽ được Brunei xem xét cho về nước sớm, 21 người đã mãn hạn tù hôm qua, 10 người còn lại phải chịu án từ nay đến hết tháng 9.
tau-6796-1437096389.jpg
Trong thời gian các ngư dân chịu án ở Brunei, Đại sứ quán Việt Nam đảm bảo việc duy trì tàu và chuẩn bị thủ tục để đưa họ về nước khi hết hạn tù. Ảnh minh họa: Trí Tín
"Đại sứ quán Việt Nam tại Brunei hôm 12/7 đã phối hợp với các cơ quan chức năng sở tại và gia đình thu xếp cho hai ngư dân trong tuổi vị thành niên được về nước. 31 ngư dân đang bị giam ở Brunei có sức khỏe ổn định", phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nói trong cuộc họp báo chiều qua.
Ông Bình cho hay trong số 31 ngư dân bị giam, 21 người hết hạn tù ngày hôm qua, 8 người sẽ hết hạn vào ngày 29/7, chủ tàu và thuyền trưởng sẽ hết hạn vào ngày 29/9. Đại sứ quán Việt Nam tại Brunei thời gian này sẽ cùng các cơ quan liên quan đảm bảo duy trì tàu cá của họ mang số hiệu QN 95924 TS và thu xếp để các ngư dân về nước sau khi hết hạn tù.
Ngay từ khi có thông tin tàu cá và 33 ngư dân bị Brunei bắt giữ hồi cuối tháng 5, Việt Nam đã xác minh và thực hiện các biện pháp bảo hộ công dân.
Trả lời về tàu cá của ngư dân ở Quảng Ngãi mới đây bị tàu Trung Quốc đâm chìm, ông Bình cho hay các cơ quan chức năng của Việt Nam đang xác minh thông tin nhằm có cơ sở để đấu tranh ngoại giao. Người phát ngôn tái khẳng định rằng Hoàng Sa và vùng biển xung quanh là thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, đồng thời là ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam từ trước đến nay. 
"Vì vậy chúng tôi phản đối mạnh mẽ mọi hành động ngăn cản ngư dân Việt Nam hoạt động làm ăn bình thường trên ngư trường truyền thống của mình", ông Bình nhấn mạnh.  

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Marốc và những cuộc tình mang tên 'nhớ thương'

Gần hai năm xa nhà, tôi nâng ly nhấp nhẹ ngụm café đắng ngắt, lòng thầm nghĩ phải cố gắng vượt qua. Ngày về hiển hiện trước mắt, nhưng rồi tôi sẽ nhớ lắm đây những đêm hè thức trắng. (Trương Hữu Hoàng Long)
Khi đôi chân đã mỏi, ý chí đã mòn, chỉ còn biết mong trông giây phút mẹ đến bên vai, vỗ về thằng con trai 20 tuổi đầu nhưng tâm hồn còn không thôi non dại: “Con à, cố lên”.
2 mùa Tết trên đất khách.
2 mùa Tết trên đất khách.
Tôi nhớ hồi đó, thằng con trai vừa đặt hai bàn tay chạm sang khung trời mười tám, đầu óc trống không, vô lo vô nghĩ, luôn là những cuộc vui thâu đếm suốt sáng cùng đám bạn. Giờ đến tuổi chững chạc, khi nghĩ lại thì thấy hoài bão là thứ gì đó xa xỉ và ước mơ cuộc đời là một mớ rối tơ vò mang tên số 0.
Ngày đó, tôi vô cùng háo hức và cũng không ngừng lo lắng về chuyến đi xa đầu tiên trong đời. Trong đầu tôi lúc đó chỉ có hai suy nghĩ, một là đi để học tập, thay đổi, trưởng thành; và hai là đi để nhớ, để thương, để biết trân trọng và hiểu cảm giác của một con người xa xứ như thế nào. Và quả thật, hai điều đó đến với tôi rất nhanh chóng.
Ngày tôi kéo vali ra đường băng... ngoảnh mặt quay sang nói khẽ với mẹ rằng: “Mẹ à, con đi nhé...”. Mẹ chỉ cười, vẫy tay lần cuối, tôi bối rối ngoảnh đi vì biết mình sắp khóc, và cũng biết mẹ chỉ đang cố gắng kìm nén cảm xúc khi không để đôi hàng lệ ướt đẫm trên mi, dẫu cho rằng lòng đang đau quặn thắt. Thằng con trai từ bé đến lớn đi đâu cũng phải một câu xin phép, giờ đây buộc sắp phải rời xa, một thân một mình hòa vào dòng chảy của sự sống nơi đất khách quê người, ăn ở tự lo, ốm đau tự giải quyết. “Con thương mẹ lắm, con sẽ cố gắng làm tròn bổn phận ở đó. Con sẽ mạnh mẽ vượt qua, bình yên trở về bên tình mẹ bao la luôn chờ đón con”. Tôi tự nhủ trong niềm đau chôn dấu.
Tuyết trên đỉnh núi.
Tuyết trên đỉnh núi.
Có lẽ khi nghe về hai từ Marốc, mọi người sẽ chỉ nghĩ đến một quốc gia Phi châu rực lửa với cái nóng thiêu đốt và gió từ sa mạc thổi vào gây cảm giác oi bức và khó chịu vô cùng. Tôi đã trải qua những "cuộc tình nửa đêm" với không khí miền Tây Bắc lục địa đen, rồi cuộc đấu tranh giữa lý trí với con tim, giành giật chút niềm thương thân mật với cuộc tình chóng vánh mang tên “nỗi nhớ”.
Những đêm hè Rabat (thủ đô Ma rốc)... Thời gian sao trôi chậm quá, chút nhạt nhòa ướt hai hàng mi, tôi bắt đầu trăn trở, bật dậy và khóc. Giữa đêm trời bỗng lóe lên chút ánh sáng từ những vì tinh tú, chui qua ô cửa nhỏ mở hé, khẽ nhắc nhẹ hai chữ “cố lên”, rằng bóng đêm chỉ trong giây lát, bình minh trước mắt rọi sáng ngời. Tương lai chờ đó, đừng nằm một xó nhỏ giọt những hàng lệ vô hồn.
Rồi những đêm đông dài bất tận, tôi chợt nghĩ có lẽ mình đã vội quyết định sai lầm? Không hẳn. Biết bao con người xa xứ, một thân một mình đi bất cứ nơi đâu, chẳng những không lo buồn rầu, họ vẫn mưu cầu những thứ gì gọi là hạnh phúc. Hạnh phúc ngay từ niềm vui du học, ngay từ việc thoát ra khỏi vỏ bọc an toàn mà mẹ cha ở nhà luôn mỏi mòn vun đắp. Thế nên cái suy nghĩ tiêu cực "quyết định đi xa là không đúng đắn" bỗng vụt tắt trong chớp mắt, mỗi khi tôi tự tạo động lực cho riêng mình bằng những cái nhìn ra ngoài thế giới.
6.jpg
Chợ cổ.
Đó là những sớm lang thang về vùng đất cảng Casablanca chỉ có trong giấc mơ ngày trước. Đó là buổi chiều muộn ngắm nghía khu chợ cổ Medina nổi tiếng trong truyền thuyết Hồi giáo ở “hòn ngọc” Marrakech, đẹp thăm thẳm và huyền bí như chính đôi mắt sâu hun hút cùng đôi mi cao vút của những cô gái đạo Hồi.
Đó là chuyến đi dài ngày ngắm tuyết phủ trắng núi trên miền Bắc thành phố Ifrane đậm chất châu Âu. Khi đó, cảm giác trong tôi như được đặt chân đến vùng quê Na Uy hay Thụy Sĩ.
Khi đánh giá một con người, ta thường hay soi vào những trải nghiệm mà họ đã qua. Thế nên tôi đã xách ba lô lên và đi bất cứ nơi đâu mình có thể đặt chân đến. Vậy thôi. Đi để cho nỗi nhớ được nguôi, để cho hình ảnh con người quê nhà nơi phương đó là chút gì sâu thẳm trong tâm hồn người trai Việt. Lúc nào buồn tủi cô đơn lại có thể lôi ra nghĩ về.
Những cuộc gọi Skype thâu đêm do trái múi giờ, cầu mong chút gì nhớ thương hiện về nhưng không hề có. Ở đó là cơn buồn ngủ bủa vây, chỉ mong gia đình bận việc mà nhanh tay tắt máy để được đi ngủ ngay tức thời. Rồi những hôm ăn mì tôm hết tháng, chỉ một lòng muốn về bên mẹ mà thôi, cơm rang trứng tráng, chút dưa cà cũng đặng.
3.jpg
Tết Việt cùng anh em, bạn bè du học sinh.
Nhắc dưa cà lại nhớ cái Tết Việt Nam da diết. Chàng trai trẻ chỉ biết lặng nhìn vào đêm trời đầy sao và thầm nghĩ còn không lâu nữa đâu phía chân trời bên kia chào đón. Và ở đó là những con người thân thuộc, luôn ngày đêm mong con người này bước chân trở về. Dù sao những người anh em, bạn bè cũng là du học sinh như mình, cùng nhau vui vầy tổ chức Tết cổ truyền trên xứ người thật đủ đầy, ấm cúng và ý nghĩa vô cùng. Nghĩ đến những điều này cho đỡ tủi thân.
Có ai biết không, những đêm đông Marốc lạnh thấu xương do chênh lệch nhiệt độ đêm ngày. Rồi chàng trai chỉ ước một bàn tay luồn nhẹ, lách dọc sống lưng, vuốt ve như mẹ đã từng. Càng nhớ nhà thì càng thương chính mình. Đến độ tháng Giêng, co ro nằm nghiêng, lò sưởi không dám bật vì tiền điện nhiều khi tăng đột biến. Lạnh cắt da cắt thịt, nhưng tôi phải cố ngủ một ít để có sức học bài.
Từ trên sân thượng nhìn xuống.
Từ trên sân thượng nhìn xuống.
Đến độ tháng năm chưa nằm đã sáng. Canh hai canh ba giấc mơ yêu chợt hiện về cầm tay ai đó dìu chân nhau bước thật chậm trên bãi biển nắng vàng. Choàng tỉnh, tôi chẳng thấy bóng hình người đâu. Tôi lại đối hiện trần nhà, rồi một mình nhớ mong trong thoáng chốc. Giờ đây tôi chỉ biết thầm lòng cầu chúc người bình yên, hạnh phúc!
Gần hai năm xa nhà, tôi nâng ly nhấp nhẹ ngụm café đắng ngắt, lòng thầm nghĩ phải cố gắng vượt qua. Ngày về hiển hiện trước mắt, nhưng rồi tôi sẽ nhớ lắm đây những đêm hè thức trắng
.

Người Việt ở Czech tham gia lễ hội các dân tộc thiểu số

Những tà áo dài truyền thống của cộng đồng người Việt để lại ấn tượng đẹp trong lễ hội các dân tộc thiểu số ở thủ đô Praha, Czech.
Lễ hội “Praha – Trái tim của các dân tộc” là cơ hội giao lưu và giới thiệu văn hóa của các dân tộc thiểu số đang sinh sống tại Praha. Lễ hội do Tiểu ban các Dân tộc thiểu số của Tòa thị chính Praha phối hợp với hội đoàn của các dân tộc thiểu số tổ chức thường niên. 
 
Lễ hội lần thứ 17 kéo dài từ ngày 28 đến 31/5. Phần lễ hội chính diễn ra hôm 30/5, với các dân tộc tham gia diễu hành từ Tòa Thị chính đến quảng trường Con Gà và quảng trường Con Ngựa.
 
Năm nay có hơn 20 dân tộc tham dự lễ hội như châu Phi, Belarus, Bulgary, Hungary, Nga, Hy Lạp, Serbia, Slovakia, Tatar, Ukraine, Xứ Wales, Do Thái...
 
Cộng đồng Việt Nam tại Czech được công nhận là một dân tộc thiểu số vào tháng 7/2013 và đã tham gia lễ hội này nhiều năm nay. Câu lạc bộ Hồng khí đạo, câu lạc bộ phụ nữ Plzen, câu lạc bộ Hương Việt ở Praha… đảm nhiệm phần giới thiệu văn hóa Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
 
Cộng đồng người Việt mang tới lễ hội những màn múa lân và giới thiệu trang phục dân tộc. Đặc biệt, tà áo dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam gây được ấn tượng đẹp đối với người dân Czech cũng như du khách. 
 
Trung tâm Praha trở nên rực rỡ và sôi động với những vũ điệu đường phố của các dân tộc.
 
Trên hai quảng trường lớn, họ tự hào biểu diễn những tiết mục văn nghệ đặc trưng cho nền văn hóa của dân tộc mình. 
 
Phụ nữ Việt Nam duyên dáng trong những điệu múa quạt và nón lá. 
 
Ngoài âm nhạc, khiêu vũ, diễu hành, chương trình lễ hội còn có triển lãm, hội thảo sáng tạo, giới thiệu đồ thủ công mỹ nghệ. 
 
Lễ hội “Praha – Trái tim của các dân tộc” được tổ chức lần đầu vào năm 1999, là sự kiện chung lớn nhất của các dân tộc thiểu số ở Praha. Khoảng 65.000 người Việt Nam đang sinh sống tại Czech
.

Nam sinh Việt 'vô gia cư' tốt nghiệp xuất sắc đại học lớn nhất Canada

Để trang trải cho khoản học phí đắt đỏ ở Canada, Anh Cao quyết định ngủ ở trung tâm của người vô gia cư và xin cơm để ăn. Sau 4 năm, cậu trở thành cử nhân xuất sắc của đại học Toronto và sở hữu trong tay nhiều học bổng danh giá. 
Anh Cao TORONTO STAR
Anh Cao trong lễ nhận bằng và vinh danh đầu tháng 6 ở đại học Toronto. Ảnh:Toronto Star
Theo Toronto Star, Anh Cao đến Canada cách đây 4 năm bằng học bổng của chính phủ Việt Nam. Cao cho hay lúc đó cậu đã nghe đến danh tiếng của đại học Toronto, đại học lớn nhất Canada, nhưng biết rất ít về đất nước này và cũng không có người thân hay bạn bè gì ở đây.
Nam sinh Việt nhận ra rằng, khoản học bổng trị giá 116.000 CAD (đôla Canada) không đủ để trang trải toàn bộ học phí và sinh hoạt phí trong 4 năm. Riêng học phí của Cao mỗi năm đã lên tới 33.000 CAD.
"Nhiều người nghĩ rằng vì tôi làm sinh viên quốc tế nên chắc tôi giàu có lắm, nhưng thu nhập của bố mẹ tôi cũng chỉ tương đương khoảng 500 CAD (gần 400 USD, 9 triệu đồng) mỗi tháng", Cao nói.
Sau khi học xong năm thứ nhất, Cao quyết định chuyển đến sống ở một trung tâm dành cho người vô gia cư trong 4 tháng để có tiền tham gia các khóa học mùa hè.
"Ở đó có thức ăn và thẻ tàu điện miễn phí, có người gọi dậy mỗi sáng và họ còn tìm cho tôi một nơi yên tĩnh để học", Cao kể.
Ngoài giờ học, Cao làm thêm tại một phòng khám, một phòng thí nghiệm miễn dịch học, đồng thời làm trợ giảng và cố vấn viên tại Trung tâm Dạy và Học.
Vào thời gian rảnh, cậu là tình nguyện viên ở các bệnh viện để giúp đỡ các bệnh nhân mắc những căn bệnh hiểm nghèo.
"Khi còn bé, tôi đã mơ ước một ngày trở thành bác sĩ bởi tôi luôn khao khát được giúp đỡ mọi người", Cao nói. "Việc giúp đỡ những người đang đối mặt với cái chết không dễ dàng gì nhưng tôi luôn cố gắng hết sức với hy vọng rằng điều đó sẽ làm cho cuộc sống của họ dễ dàng hơn một chút".
Năm vừa qua, Cao được một người bạn cho ở trọ miễn phí, trong khi mẹ của một người bạn khác chuẩn bị bữa trưa cho cậu. Karen Siddique, một nhân viên quét dọn phòng thí nghiệm của trường, cũng quý mến tinh thần vượt khó của Cao và cho cậu ăn tối miễn phí hàng ngày.
Tuy nhiên, Tiantian Zhao, người làm việc cùng phòng thí nghiệm với Cao, kể rằng dù gặp khó khăn về tài chính, cậu vẫn rất hào phóng. "Cậu ấy chỉ còn 20 CAD trong tài khoản ngân hàng và đã dùng nó để mua bánh rán cho mọi người, kể cả những người không quen biết", Zhao kể. 
Suốt 4 năm, không phụ lòng giúp đỡ của mọi người, Cao luôn đạt điểm A trong tất cả các môn. Đầu tháng 6, cậu tốt nghiệp bằng xuất sắc ngành khoa học, đồng thời nhận giải thưởng John Black Aird dành cho sinh viên ưu tú của đại học Toronto và huy chương bạc của Toàn quyền Canada. Trước đó, nam sinh Việt cũng nhận được học bổng A. D. Allen và được giáo sư sinh học của mình viết thư giới thiệu giúp cậu giành học bổng quốc gia danh giá của Mạng lưới Tế bào Gốc.
Anh Cao và những người đã giúp đỡ cậu trong 4 năm qua, bao gồm giáo sư Bebhinn Treanor (áo đỏ) và nhân viên dọn vệ sinh Karen Siddique (ngoài cùng bên phải) Ảnh: Toronto Star
Anh Cao và những người đã giúp đỡ cậu trong 4 năm qua, bao gồm Tiantian Zhao (áo trắng), giáo sư Bebhinn Treanor (áo đỏ) và nhân viên dọn vệ sinh Karen Siddique (ngoài cùng bên phải) Ảnh: Toronto Star
Giáo sư Bebhinn Treanor, người nhận Cao vào làm việc ở phòng thí nghiệm của bà và hướng dẫn cậu thực hiện luận án dài một năm, cho hay tiếng tăm của nam sinh này càng lan rộng nhờ vai trò lãnh đạo tại nhóm cố vấn học tập FSG trong hai năm qua.
"Tôi thường nghe các sinh viên nghiên cứu mới nói rằng 'ồ, em biết Anh Cao, anh ấy điều hành FSG' và sau đó luôn là câu 'anh ấy rất tuyệt vời!' ", bà Treanor kể. "Anh Cao là một sinh viên đặc biệt và giải thưởng này không thể dành cho ai xứng đáng hơn".
Giáo sư sinh học của Cao, Clare Hasenkampf, cho hay cậu đạt điểm tuyệt đối trong khóa di truyền học do bà giảng dạy và đây là sinh viên đầu tiên đạt thành tích này sau 22 năm bà đứng lớp.
"Tôi từng trải qua những khoảng thời gian khó khăn nhưng tôi không than phiền gì về điều đó", nam sinh 23 tuổi nói. "Nếu không có sự hỗ trợ của bạn bè, những người đối với tôi giống như gia đình, thì tôi không thể nào làm được những điều trên".
Để cảm ơn bà Siddique, Cao đã mời bà đến dự lễ vinh danh của cậu. Tại buổi lễ, Cao mặc bộ đồ cử nhân và cầm con gấu bông mà bà Siddique tặng.
"Tôi biết được rằng người Canada, nhất là những người sống ở Toronto, là những người rất hào phóng", Cao nói.
Khi tên của Cao được xướng lên, cậu bước lên sân khấu nhận bằng khen với lá cờ Việt Nam choàng sau lưng. "Đó là cách để tôi cảm ơn 18 triệu người dân Việt Nam đã nộp thuế cho học bổng giúp tôi có mặt ở đây. Đó là một khoản tiền rất lớn", Cao nói.
Anh Cao cho hay cậu học được nhiều điều từ bố, một quân nhân nghỉ hưu, và mẹ, một giáo viên tiếng Anh, trong đó có đạo đức làm việc và tinh thần lạc quan, khiêm tốn.
Cao dự kiến trở về Việt Nam nghỉ hè và sẽ quay lại Canada vào mùa thu tới để bắt đầu khóa thạc sĩ ngành miễn dịch học. 

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Cuộc gặp gỡ trên tàu

Tôi luôn tự hỏi không biết giờ này em ở đâu và cuộc sống mới của em như thế nào, chỉ biết cầu mong một cuộc sống tốt đẹp rồi sẽ đến với em. (Đồng Thị Thương Hiền, Đức)
Năm 2011, tôi sang Đức học nâng cao 6 tháng, trong đó có 2 tháng thực tập tại Bỉ. Hết 4 tháng ở Đức, tôi bắt tàu sang Bỉ. Khi tôi đang loay hoay với hai hành lý to thì cậu ta xuất hiện. Chúng tôi nhìn nhau một hồi. Cứ thế, người này chờ người kia lên tiếng trước. Và tôi lên tiếng. Có phải em là người Việt Nam không? Phải. Tôi mừng rỡ. Và câu chuyện bắt đầu.
Cậu ta xem chừng cũng muốn bắt chuyện với tôi vì trước tiên cậu ta muốn hỏi xem đây có đúng là tàu đi Brussels không. Chuyến tàu trước bị hoãn, cậu ta bị nhỡ tàu và lo lắng vì đó là chuyến cuối cùng trong ngày đi Brussels, sẽ không có chuyến kế tiếp và lại đang có người đợi.
anh-tac-gia-tai-duc-1433279983_143329194
Tôi hỏi cậu ta làm gì ở đây. Mặt tỉnh queo, cậu ta trả lời "Em làm nghề ăn cắp, móc túi". Tôi thoáng ngỡ ngàng. Tôi đang mang toàn bộ gia sản của mình và đứng trước một anh chàng làm nghề trộm cắp, nhưng nhanh chóng tôi lấy lại được bình tĩnh. Tôi vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện một cách bình thường, thoải mái. Tôi thấy khuôn mặt cậu ta khá hiền lành, trông già trước tuổi, và có một điều là trong suốt cuộc nói chuyện khá dài, cậu ta không một lần dám nhìn thẳng vào mắt tôi.
Cậu ta cho biết quê ở Hà Tĩnh, một huyện nông thôn nghèo, sang Đức từ năm 19 tuổi. "Em đi cùng mấy người trong làng, mọi người rủ nhau thì em cũng đi. Em chưa học xong cấp 3, thấy nhiều người đi, rồi có tiền gửi về nhà giúp đỡ gia đình, thế là cũng đi thôi. Em mất một ít tiền cho người dẫn đường, chứ qua công ty xuất khẩu lao động thì mất nhiều tiền lắm. Bọn em vượt biên, đi bằng đường ôtô, mất 8 tháng mới sang được đến Đức"...
Rồi cậu ta chậm rãi kể về cuộc sống ở Đức: "Bọn em vào trại tị nạn. Mấy người Việt ở cùng với nhau và cùng nhau đi làm lậu. Ban đầu bọn em bán thuốc lá trên đường phố. Không phải công khai đâu chị, bán bí mật. Bỏ thuốc lá vào túi, người quen biết mình rồi thì cứ thế hỏi thôi. Rồi chuyển sang bán thuốc phiện. Cũng phải cẩn thận đấy, không thì bị bắt. Rồi cũng làm thêm nghề trộm cắp. Tháng cũng kiếm được hơn một nghìn. Nhưng dạo này làm ăn kém. Hồi trước làm ăn khá hơn, có tháng được 3-4 nghìn".
Tôi hỏi "Sao em không đi làm ở siêu thị, cửa hàng, hay kiếm một công việc nào đó?". Em trả lời "Em không biết tiếng. Sang đây 9 năm rồi nhưng không học được, có cố cũng không học được, em dốt học tiếng lắm. Với lại không có giấy tờ, không xin được việc. Làm thế này tự do hơn".
Cậu ta đưa cho tôi xem cái thẻ tạm trú đã quá cũ, rất nhanh, tôi nhìn ra cái tên “Nguyen Duy Hung”. Hưng hay Hùng? Hưng, nhưng cũng chỉ là tên giả thôi, không phải tên thật đâu. Sang đây, đến trại tị nạn, nói tôi bị mất hết giấy tờ, muốn khai tên nào thì được tên đó. Em không có hộ chiếu. Chỉ có cái thẻ này.
Khi tôi hỏi về dự định tương lai, mắt cậu ta nhìn xa xăm, nét mặt vừa lo lắng, vừa tràn trề hy vọng "Em sẽ qua Bỉ, rồi sang Anh, có mấy anh người Việt cũng ở đó, đang chờ để đón em ở Anh rồi".
"Thế bao giờ thì em về quê?". Em trả lời "Bố mẹ em cũng giục về lấy vợ, em bảo làm thêm dăm năm nữa, đến khi ngoài 32 tuổi thì về quê lấy vợ cũng chưa muộn. Về lúc đó cũng có lưng vốn, làm ăn. Việt kiều ra đường cũng oai, lấy ai chẳng được. Không lấy được gái tây đâu, chúng nó to cao lắm (cậu ta cao khoảng 1m6). Với lại nó không hợp với mình. Nhiều lúc cũng muốn về, nhưng về rồi thì sống làm sao. Ở đây em sống cũng chui lủi, nhưng tháng gửi được cho bố mẹ chục triệu đồng, trừ tiền ăn, tiền tiêu đi rồi, còn tiết kiệm được chút".
Tôi thấy ngạc nhiên là sau 9 năm ở Đức sinh sống, cậu ta chỉ có mỗi bộ quần áo trên người, một cái ba lô nhỏ xíu đeo sau lưng. Sang một nước khác sinh sống mà không có vali hòm xiểng gì cả. Cậu ta nói: "Em để lại hết cho các anh cùng sống với em, chỉ mang mỗi một bộ quần áo để thay đổi thôi".
Nhìn cậu ta khá mệt mỏi, tôi bảo cậu ta chợp mắt một lúc. Cậu ta ngồi trên sàn, nhắm mắt, nhưng không ngủ được, lại dậy nói chuyện với tôi. Cậu ta cần người chia sẻ, và đang có nhiều tâm trạng. Khi tôi xuống tàu, cậu ta giúp tôi chuyển đồ, và khi tàu đi rồi, cậu ta vẫn còn nhìn tôi đầy lưu luyến.
Cái ánh mắt buồn nhìn theo tôi khi tàu lăn bánh và cuộc gặp gỡ với cậu bé làm tôi ám ảnh suốt. Cách đây hai tuần, khi xem trên báo Anh có nói phát hiện 3.000 trẻ em Việt Nam sang Anh bị giữ hết giấy tờ và bắt làm nô lệ trồng cây thuốc phiện, lòng tôi lại nôn nao. Tôi luôn tự hỏi không biết giờ này em ở đâu và cuộc sống mới của em như thế nào, chỉ biết cầu mong một cuộc sống tốt đẹp rồi sẽ đến với em.

Đất khách

Nhiều lúc nó muốn gặp chị để thổ lộ nỗi niềm, nhưng giữa nó và chị là cả một khoảng trời xa cách. Nó không muốn chị khó xử, cũng không muốn mất đi một người bạn như chị. (Đoàn Thị Huệ, Hà Nội)
Đảo ngọc dưới mắt nó giờ chỉ còn là một vệt xanh mờ, mỏng manh trôi giữa những con sóng sủi tung bọt trắng. Sóng dường như cũng đang đánh vào tâm hồn đầy bão giông của nó, bất giác nó thấy khóe mắt cay cay và có cái gì mằn mặn trên môi. Là nước mắt, chao ôi nước mắt. Nó cắn chặt môi, ép để nước mắt không chảy ra nữa… Rã rời, nó ngả đầu trên ghế và thiếp đi mơ màng trong tiếng nhạc nhè nhẹ…
Nó thấy mình đứng xếp hàng cùng mẹ trước quầy làm thủ tục, lòng nó háo hức lắm. Cạnh nó là mẹ, dáng hao gầy, mặt buồn rượi vì sắp phải xa đứa con thân yêu. Lúc chia tay, mẹ vòng tay ôm đứa con cao lớn thủ thỉ “Mẹ mong con trai mẹ sẽ trưởng thành”. Nó cũng khẽ khàng “Mẹ ở nhà giữ gìn sức khỏe, sang đến nơi con sẽ gọi điện về cho mẹ”.
Biển mây trắng bồng bềnh khiến nó thấy lâng lâng, rất nhanh thôi nó sẽ đến miền đất hứa. Nhưng đêm đầu tiên tại Đài Loan đã làm cho giấc mộng của nó tan tành một nửa. Nó không thể ngủ được vì phải chờ đợi, rồi tập trung ở cái chỗ chật chội, hôi hám toàn người là người để chờ khám sức khỏe. Nó làm quen được một anh lao động sang lần hai, mượn anh điện thoại gọi về cho mẹ, vừa kịp báo tin con sang đến nơi an toàn thì máy hết tiền.
Những tháng ngày đầu tiên ở nơi này nó thấy thật đau khổ. Xưởng nó làm đúc, cả cái xưởng đen đúa và hôi mùi muội thép. Nó thao thức nhớ nhà khi phải ở cái phòng ở tạm bợ, tối nằm nghe mấy con chuột chạy rúc rích... Nó muốn xin về, nhưng nghĩ đến món nợ mà cả nhà đang gánh để lấy tiền cho nó đi Đài Loan, nó nuốt nước mắt vào trong lòng. Nó tự nói với mình phải cố gắng làm để trả nợ rồi về.
Nó học việc khá nhanh, ông chủ khen nó thông minh và quý nó lắm. Ông chủ theo đạo Phật, chủ nhật nào cũng lên chùa tụng kinh, có lần ông đưa nó đi cùng, dần dà quen thân, ông thương nó như con. Ông dạy nó tiếng Đài, được tiếp xúc nhiều nó học nói rất nhanh, khoảng hai tháng nó đã nghe và nói tốt. Lòng nó cũng thấy ấm áp hơn. Món nợ thôi thúc nó làm ngày làm đêm, nó xin ông cho thêm nhiều hơn, ông thấy nó làm nhanh nên cho làm khoán sản phẩm. Lương nó nhận được tháng nào cũng cao gấp đôi lương hai cậu Thái Lan làm cùng.
Nó làm được một năm hai tháng thì trả hết nợ, nhưng nó muốn kiếm thêm chút tiền làm vốn nữa, dù gì nó cũng thấy quen thân hơn với nơi này và nó muốn trở thành người đàn ông trưởng thành cho mẹ và em gái có một chỗ dựa. Nhưng cũng từ đây định mệnh nghiệt ngã bắt đầu đeo bám nó…”.
Cô tiếp viên phục vụ đồ ăn làm nó tỉnh giấc, tay hờ hững cầm khay đồ ăn, nó xin thêm một chút nước lọc, miệng thấy đắng ngắt, nó uống hết cốc nước rồi chẳng thiết ăn. Nó ghé mắt qua cái cửa sổ bé xíu, bên ngoài vẫn là biển mây trắng bồng bềnh trôi, nhưng khác tâm trạng khi ra đi, lòng nó thấy nặng trĩu.
Ngày nó gặp cô chính là ngày hẹn ông anh (người cho nó gọi nhờ điện thoại ngày đầu tiên khi bước chân sang Đài Loan). Nó nhìn cái má lúm và cái miệng nhỏ xinh của cô không chớp mắt, anh bạn đá mắt “Này, nó được đó, lại đang cô đơn, tới đi mày”. Rồi chủ nhật, nó cũng không theo ông chủ lên chùa nữa, nó bê tha công việc, lúc nào cũng tơ tưởng đến cái giọng miền Tây nghe ngọt lịm như rót mật của cô. Cô lấy chồng Đài, nó biết chuyện tình này khó có được kết cục tốt đẹp, nhưng nó mặc kệ. Nó dành cho cô tình cảm chân thành của một gã trai mới lớn, non nớt, vụng dại nhưng si mê tột đỉnh.
Hơn hai năm trôi qua, kiếm được bao nhiêu nó đưa cô hết. Chủ nói mãi không được, gọi môi giới đến cảnh cáo nó, nó để ngoài tai. Chủ không cho nó làm thêm nữa. Tiền kiếm được không nhiều, nó bắt đầu đánh bạc thử vận may, hôm nào thắng bạc, nó mời bạn bè về ăn uống, nhậu nhẹt và hò hét tới sáng. Cuộc sống cứ thế trôi đi, không mục đích và vô định, nó chỉ cần tình yêu của cô. Được gần một năm thì cô biến mất không một lời từ biệt. Nó lang thang tìm cô, tim đau đến nghẹt thở. Người ta bảo cô đã tìm được tình mới nên bỏ nó mà đi.
Tuyệt vọng, nó uống rượu và đi gây sự, rồi cầm dao đâm vào ngực một lao động khác xưởng. Khi máu tanh bắn lên mặt nó, lấm lem trên tay nó, nó sợ hãi và nghĩ cuộc đời chắc đến đây là hết. Nhưng nó không bỏ trốn, nó nghĩ nếu là nợ thì phải trả, chẳng ai trốn được cả đời. Nghĩ vậy, nhưng nó cũng không đầu thú, dù gì nó vẫn hy vọng cảnh sát sẽ không dò tìm ra nó. Sắp hết hạn rồi, nó muốn về đúng hạn để mẹ không buồn và thất vọng vì nó.
Sự việc nhanh chóng được phanh phui, nó bị còng tay đưa đi, nó nghĩ “Thôi, đời thế là hết”. Môi giới của nó cũng được gọi đến, chị phiên dịch người Bắc mặt nghiêm nghị với ánh mắt buồn nhìn nó. Nó lạnh sống lưng thấy sao ánh mắt ấy giống mắt mẹ nó thế. Nhìn vào đôi mắt trong veo ấy, nó thấy mình như đang đối diện với lương tâm của chính mình. May mắn cho nó là người bị hại không chết, nó hối lỗi và xin được bồi thường. Không biết chị nỉ non thế nào mà đối phương chấp nhận lời thỉnh cầu của nó, đồng ý ký giấy hòa giải. Nó hưởng án treo và bị theo dõi cho đến khi về nước.
Sau lần ấy chị hay gọi điện cho nó, nó đồ rằng chị sợ nó bỏ trốn. Trốn ư, nó không muốn, vì mẹ sẽ lo cho nó mà đổ bệnh mất, nhưng tự dưng có người nói chuyện cũng hay. Dần dà nó quen với sự hiện hữu của chị, hôm nào không được nói chuyện là nó thấy nhớ. Có hôm nó uống rượu chia tay thằng bạn về nước, người phê phê rầu rầu, giữa đêm khuya gọi điện cho chị, nó khóc nấc “Nếu em gặp chị sớm hơn, đời em có lẽ đã không thảm thế này”.
Lặng đi hồi lâu, chị khẽ khàng vỗ về nó “Khóc đi em, lòng em sẽ thấy thanh thản hơn. Người ta sẽ trưởng thành hơn sau mỗi lần vấp ngã, sẽ chẳng bao giờ lào muộn cho những người biết hối cải cả”. Nó khóc òa và hôm đó, nó ngủ ngon lành. Lòng nó cảm kích lắm, và đâu đó có một nỗi nhớ manh nha trong nó. Nó nhớ chị như nhớ đến một người đã cứu rỗi linh hồn nó. Nhiều lúc nó muốn gặp chị để thổ lộ nỗi niềm, nhưng giữa nó và chị là cả một khoảng trời xa cách. Nó không muốn chị khó xử, cũng không muốn mất đi một người bạn như chị.
Tạm biệt Đài Loan, nó mang theo nỗi nhớ đau đáu về chị, nỗi nhớ lặng câm vì nó biết không thể níu giữ những gì không phải là của nó, vì “mây vốn là của trời, hãy để gió cuốn đi”…
Máy bay chao nghiêng, nó nhìn thấy đất mẹ thân thương rõ dần qua làn mây mỏng

Một thoáng lênh đênh

Cô về với chiếc nón lá đội đầu khi ra thăm mộ người mẹ mà cô từng đau nhói lòng khi cách xa nửa vòng trái đất. Giờ đây, đó lại là nỗi đau nhói tim khi phải cách xa nhau giữa hai bờ sinh tử mà không được nhìn mặt bà dù lần cuối. (Huỳnh Thị Lài)
Tôi và những đứa trẻ cùng thời được xem là thế hệ hạnh phúc vì được sinh ra và sống trọn trong thời bình. Chúng tôi được đi học, được hưởng đầy đủ tình yêu thương của gia đình và xã hội dành cho. Tôi chưa từng biết đến nỗi cô đơn, nỗi buồn hay nhớ nhung gì lớn lao, nhưng luôn biết và thấy được điều đó qua sự nhớ thương của cha về người cô ruột ở cách xa cha và cách xa ông bà gần nửa quả địa cầu. Cha luôn nhắc và kể về cô như muốn khơi gợi trong tôi một hình ảnh của người thân, một mối thâm tình mà tôi chưa một lần biết mặt. Do hoàn cảnh, do thời cuộc hay do chính con người cũng đều đau nhói lòng khi cách xa và khi chợt nhắc tới.
Và sau hơn ba mươi năm xa cách, mùa Tết vừa qua cô đã trở về quê hương sau. Cô về nước, về quê hương đáng lẽ ra cô phải vui, nhưng ngược lại là rất buồn.
Ba mươi năm trước, khi di cư sang Mỹ, cô được gia đình tiễn đi với mái tóc còn xanh, khi những đứa em còn nghịch ngợm bảo chị: “Mai mốt về chị mua đồ chơi thiệt đẹp cho em nghe”, khi ông bà của tôi còn rất khỏe, còn tươi cười cho bước chân của con không bịn rịn. Sau ba mươi năm sau, những gương mặt luôn ngóng chờ nhau trong ký ức thì xíu nữa không nhận ra nhau. Giờ cô tôi đã già lắm, tóc bạc nhiều, không còn giọng nói ngọt ngào như cha luôn kể, không còn mái tóc dài thướt tha mà thay vào đó là mái tóc xoăn vàng, giọng nói vấp váp giữa hai ngôn ngữ làm cả cô và gia đình đều lúng túng đôi lần.
Cô về với một trong ba người con mà lần đầu tiên tôi gặp. Anh tôi cũng cố gắng như tôi cũng từng cô gắng với ngôn ngữ lạ qua lời chào thân thiết “con chào cậu”, rồi quay sang đám nhóc tụi tui cười cười ngượng ngạo. Tôi không hiểu tại sao mình lại đứng lặng thinh trước anh, rõ là tôi đã trong chờ trong giấc ngủ hết cả tuần khi nghĩ đến cô và anh của mình với bao nhiêu câu hỏi, nào là “anh học bên ấy có vui không?”, “giáo viên bên đó có nghiêm khắc, có đánh roi không?”… nhưng ngược lại tôi đã nhìn anh với con mắt của người lạ, xen lẫn nỗi buồn mông lung.
Có lẽ tôi có chút thất vọng, cái thất vọng ngây ngô khó hiểu của đứa trẻ nông thôn. Tôi đã buồn khi nhìn anh quá sạch sẽ, lịch sự thì những trò chơi đồng nội bùn lầy mà tôi đã chờ đón anh xem như vô ích. Tôi đã buồn vô cớ khi muốn nói với anh nhiều nhưng lại bị bất đồng ngôn ngữ dù anh cũng cố gắng và tôi cũng từng cố gắng cho ngày đoàn viên. Tôi từng rèn tiếng Anh, từng ao ước nói thao thao khi được gặp cô, được khoe vốn kiến thức khá vững của bản thân, nhưng không thốt được lời nào mà lại trông chờ cô đến với tôi bằng ngôn ngữ quê nhà.
Dường như khi về nước, cô đã mặc vào chiếc áo bà ba của người phụ nữ Việt Nam ngay khi vừa xuống sân bay với câu hỏi thuần nông “lúc này mấy cậu làm lúa trúng mùa không?”. Cô vẫn là người phụ nữ đảm đang, khéo léo khi vẫn còn nhớ đến món xôi đậu thơm lừng mà bà vẫn làm khi cô và cha còn bé, cô nhắc đến món dừa nạo béo béo ăn cùng với cơm nếp nóng hổi, hay món ốc luộc sả chấm cơm mẻ cay cay đầu lưỡi.
Cô về với chiếc nón lá đội đầu khi ra thăm mộ người mẹ mà cô từng đau nhói lòng khi cách xa nửa vòng trái đất. Giờ đây, đó lại là nỗi đau nhói tim khi phải cách xa nhau giữa hai bờ sinh tử mà không được nhìn mặt bà dù lần cuối. Cô vẫn là người con hiếu thảo như ngày nào khi làm dâng lên cúng bà những món ăn mà sinh thời bà rất thích. Cô vẫn là người phụ nữ Việt Nam, vẫn nhớ như in hình bóng quê nhà, vẫn làm thành thạo những món ăn truyền thống dân dã. Và sau hơn ba mươi năm xa cách, chỉ trong những ngày tháng ít ỏi gần cô, nhưng tôi vẫn tưởng được gần và được ở bên cô từ lúc còn bé thơ. Hay những cảm xúc đó của tôi là tình huyết thống, là thâm tình của con người Việt Nam với nhau
.

Bà giáo Ba Lan

Năm 1967, tôi được đi du học tại Ba Lan. Năm đầu là năm học tiếng Ba Lan. Bà giáo dạy tiếng đồng thời là chủ nhiệm lớp tôi là cô Mila Tesz. Bà đặc biệt yêu quý Việt Nam. (Quốc Thắng, Hà Nội)
Cô hơn chúng tôi 6-7 tuổi. Tình cảm của cô đối với chúng tôi như của người chị trong gia đình với các em. Tôi nhớ mãi hình ảnh bà giáo ra đầu cầu thang hút thuốc lá và khóc một mình sau khi bà khuyên bạn Quỳ của lớp tôi về ký túc xá nghỉ vì bạn tôi vừa nhận được thư báo tin người thân trong gia đình chết trong một trận bom. Buổi học hôm đó, cô giảng về cuốn sách "Những lá thư viết dưới máy chém” của những tù nhân Ba Lan viết cho người thân trước ngày bị hành hình trong các trạm giam của phát xít Đức. Bài học thẫm đẫm nước mắt và đầy tính nhân văn.
Năm học kết thúc, trong buổi chia tay, cô nói: "Tôi rất yêu các em, Tôi chỉ như người chèo đò đưa các em vượt qua con sông ngôn ngữ vô hình ngăn cách hai dân tộc, bên kia bờ, các em và người Ba Lan sẽ nói chuyện được với nhau và hiểu nhau. Đấy là niềm hạnh phúc của tôi. Hôm nay, chia tay, tôi cầu chúc hòa bình cho Việt Nam và mong các em sẽ gặp được mẹ của mình trong ngày trở về". Chúng tôi, ai cũng đều xúc động. Sau năm học tiếng, chúng tôi theo học chuyên ngành tại các trường đại học ở nhiều thành phố khác nhau trên đất nước Ba Lan, chỉ có thể thăm hỏi bà qua những lá thư và thiếp chúc mừng.
Năm 1973, anh Cường, người bạn cùng lớp học tiếng với tôi không may mắc bệnh viêm màng não và qua đời tại thành phố Krakow. Chúng tôi rất muốn báo tin cho cô mà không có địa chỉ vì trung tâm dạy tiếng đã giải thể. Cường là người sinh viên mà cô rất yêu thương.
Năm 1999, trong chuyến đi công tác tại Ba Lan, chúng tôi sắp xếp công việc để về Krakow thắp hương cho Cường. Chúng tôi cầu mong bạn được an nghỉ ở Việt Nam. Vừa khấn xong thì thật lạ kỳ, cả bát hương bốc cháy.
Năm sau, chúng tôi tìm đến nhà Cường theo địa chỉ từ ngày còn cùng học và rất xúc động khi nghe chị của Cường kể: "Gia đình chị chỉ có 2 người em trai, anh trai Cường thì hy sinh trong chiến đấu ở miền Nam, còn Cường thì mất tại Ba Lan. Mẹ chị khóc nhiều lắm, cho tới khi mất mẹ vẫn tin là Cường còn sống. Bố chị viết trong di chúc nhắc cả nhà phải nhớ còn một người em đang an nghỉ xa quê hương, hãy cố đưa em về".
Câu chuyện gia đình Cường đã thôi thúc anh em chúng tôi liên hệ với các cơ quan chức năng để giúp gia đình đưa hài cốt của Cường về an táng tại Việt Nam. Cuối năm 2005, mọi công việc được hoàn tất.
Đầu năm 2007, anh em lớp học tiếng họp mặt kỷ niệm 40 năm sang Ba Lan, chúng tôi cùng đi thăm mộ bạn Cường và đến nhà thắp hương trong ngày giỗ bạn. Anh Ngôn lớp trưởng của lớp nói rằng nếu mời được bà giáo Mila Tesz thăm Việt Nam để tri ân thì mới thật là trọn vẹn. Thế là cả lớp  ngồi bàn thảo kế hoạch đi tìm lại người chèo đò 40 năm trước.
Đi tìm lại bà giáo thật chẳng dễ vì cô Mila Tesz đã nghỉ dạy tiếng Ba Lan và đi nơi khác. Trong lớp, chỉ có anh Tô đang làm việc tại Ba Lan, chúng tôi đề xuất với anh đi tìm lại các thầy giáo dạy tiếng khác của trung tâm để hỏi thăm. Nhờ một bà giáo, chúng tôi biết được tên thành phố quê hương của cô Mila Tesz là Tomaszow Mazowiecki. Thành phố này chỉ có vài vạn cư dân nên anh Tô quyết định sẽ tới thành phố đó, tìm mua cuốn danh bạ điện thoại và gọi tới tất cả những người có họ là Tesz (họ không phổ biến ở Ba Lan). 
Tại hiệu sách đầu tiên anh Tô vào tìm mua danh bạ điện thoại, bà chủ cửa hàng cho hay có một người bạn họ Tesz nhưng không phải là giáo viên, mà là nhà thơ. Anh Tô mừng lắm lấy điện thoại gọi theo số được cho, thật may mắn không ngờ, đó chính là bà giáo của chúng tôi. Câu chuyện về Cường và gia đình được kể lại đã làm bà giáo rất xúc động, cô lặng đi một hồi rồi nhận lời đi thăm Việt Nam.
Trong buổi gặp mặt đầu tiên trên đất Việt với các học trò cũ, bà giáo ôn lại những kỷ niệm xưa ở lớp học với trí nhớ tuyệt vời. Cuối buổi gặp, cô nói: "Hạnh phúc là tất cả các em đã trở về nhà, cả Cường cũng đã trở về". Ngày hôm sau, chúng tôi đưa bà giáo tới nghĩa trang Tây Tựu, thăm mộ Cường. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên và xúc động vô cùng là những hiểu biết của bà giáo về phong tục Việt đối với người đã khuất, cũng như nhận ra vì sao mọi người  gọi bà là nhà thơ.
Bà đem tới mộ một bó hoa trắng, một thẻ hương và đọc một bài thơ của chính mình trước mộ người học trò, đọc xong bà khóc rồi tự tay bật lửa hóa bài thơ đó. Hình ảnh bà khóc làm chúng tôi chẳng ai cầm được nước mắt. Tôi đã xin bà dịch bài thơ ra tiếng Việt để trao lại cho gia đình Cường. Chị Phong là chị cả của Cường nắm tay bà giáo nói: "Bố, mẹ và Cường được an ủi nhiều lắm dưới suối vàng, Bà giáo ạ".
Có những người vội vã ra đi
Cánh cửa sau lưng còn chưa kịp khép
Dòng đời cứ trôi và chúng tôi cứ đợi
Đợi mãi sự trở về, đợi... đợi mãi, Cường ơi
Mùa thu còn ở rất xa xôi
Gió mạnh, lá xanh đã rụng rồi
Thương em, khóc có bao bạn hữu
Có cả mẹ em, có cả tôi
Từ Ba Lan, em trở về đất mẹ
Từ Ba Lan, tôi tìm đến thăm em
Đứng trước mộ, đôi mắt tôi nhòa lệ
Cố gắng nhìn sao chẳng rõ hình em
Bỗng tự thinh không tôi nghe tiếng học bài
Tiếng em đọc và cả hình em nữa
Em đã trở về giữa nắng chói trưa hè
Đã trở về rồi, người học trò hiền lành nhỏ bé của tôi.           
Ngày chia tay trở về Ba Lan, bà ôm hôn từng đứa học trò chúng tôi và nói: "Cảm ơn các em, cảm ơn các em đã nhớ về người chèo đò 40 năm trước". Còn chúng tôi thì thật hạnh phúc vì đã tìm được và tri ân người giáo viên đã cho chúng tôi những bài học thẫm đẫm tình người.

Nụ cười không răng

Mẹ cười hề hề trấn an, bà ngoại yên tâm, mấy chục tháng nữa là người ta nằm gọn lỏn trên tay bà ngoại rồi. Mẹ cười vậy, chứ trong lòng nhỏ giọt như mưa. (Mỹ Ngôn, Pháp)
Mùa hè châu Âu đang chậm rãi từng bước vô nhà, có khi sợ hãi điều chi đó, lại rón rén bước ra, nên mẹ phải liên tục thay áo cho người ta khỏi mướt mồ hôi. Dạo này người ta đã lớn thêm được một chút, biết lật sấp lật ngửa, khám phá thế giới rộng lớn hàng ngàn milimét vuông để mở mang tầm mắt. Mỗi lần túm được con gấu bông, là người ta quay sang màn hình, cười với bà ngoại, và đợi nghe tiếng trầm trồ của dì Ti. Lần nào nói chuyện qua skype, bà ngoại cũng vỗ tay đòi ẵm người ta, đặt một ngàn câu hỏi làm mẹ trả lời không hết.
- Người ta bú có ngoan không?
- Sao không mua sữa bột để người ta bú thêm cho bụ bẫm?
- Hổm rài người ta ị có đều không mẹ Cò?
- Người ta thích nghe ba hay mẹ nói chuyện?
- Nhớ nói tiếng Việt cho người ta nghe mỗi ngày nhe!
- Kìa, người ta khóc rồi, bồng người ta lên đi!
Quay qua quay lại, thì bà ngoại biến mất khỏi màn hình. Dì Ti nói bà ngoại ngủ rồi, nhưng lại có tiếng nấc nhẹ nhẹ, tiếng mũi sụt sịt rõ mồn một. Bà ngoại vẫn ngồi sát bên chứ đâu. Người ta vừa nín, thì bà ngoại lại khóc nhè. Mẹ cười hề hề trấn an, bà ngoại yên tâm, mấy chục tháng nữa là người ta nằm gọn lỏn trên tay bà ngoại rồi. Mẹ cười hề hề vậy, chứ trong lòng nhỏ giọt như mưa.
Mấy hôm trước, ông nội chở cả nhà đi gia hạn visa cho mẹ. Đường dài gần trăm cây số, băng qua cánh đồng vàng mượt màu hoa cải dầu dưới bầu trời xanh trong, chằng chịt sọc carô bông trắng được vẽ từ những chiếc máy bay. Tiếc là người ta không được ngắm khung cảnh dễ thương này, vì người ta nhỏ xíu, ghế người ta cũng nhỏ xíu, nhìn không tới cửa sổ. Thôi không sao, biết đâu giữa vô vàn vạch kẻ trên trời, có một vạch nối về Việt Nam, mẹ sẽ mang người ta lên đó, để người ta về ôm eo ông ngoại, ngồi trên xe máy vi vu qua những đồng lúa chín hườm, thơm thơm mùi sữa gạo.
nu-cuoi-khong-rang-1433347154-7204-14333
Hôm rồi ông nội đãi sinh nhật bằng tiệc BBQ ngoài trời, người ta được dịp tắm nắng trong chiếc nôi mini đặt cạnh bàn tiệc. Ba mẹ ngồi kế bên, thỉnh thoảng ê a, bi bô cho người ta đừng chán. Tiệc vui, ai cũng vui, nói cười rôm rả, hỏi han mẹ đủ điều. Chia động từ mãi cũng mệt, tập trung cao độ để hiểu và cười theo những câu chuyện đùa kiểu Tây mãi cũng mệt, mẹ quay sang người ta, thủ thỉ vài câu tiếng Việt, rằng mẹ mệt đứt hơi rồi. Chắc người ta hiểu, là thật ra mẹ đang thấy lạc lõng, nên nhoẻn miệng, tặng mẹ nụ cười tươi rói mà chẳng ló được chiếc răng nào.
Ở Nangis đầy nắng gió này, ông bà nội luôn tạo không khí thân tình, ấm áp cho mẹ đỡ nhớ nhà. Ừ thì thôi, mẹ không nhớ nhà nữa, nhưng trước mắt mẹ bỗng có dì Ti mắt hí đang dắt tay người ta lững chững tập đi, có bà ngoại đang cầm chén cháo nóng hổi thổi phèo phèo chờ đút, có ông ngoại ngồi chồm hổm sửa chiếc xe đạp bốn bánh bé tí ti. Ai nấy đều vui như Tết, mắt người ta lấp lánh, môi nở nụ cười đã được lấp đầy răng trắng xinh
.

Nhớ về ông

Chính cuộc sống xa xứ đã khiến cho nỗi nhớ về cố hương trong nó thêm da diết. Nó đau khổ nhất là khi muốn neo mà không thể cập bến cần dừng. (Lê Thị Kim Ngân, Bến Tre)
Nhìn bạn bè, anh chị đi ra nước ngoài du học, nó thầm ước ao cũng một lần được như thế, được đi, được trải nghiệm và được học hỏi. Nhưng nó là con nhỏ được sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo của miền sông nước. Tuổi thơ của nó là chuỗi ngày dài của sự lao động không mệt mỏi đề tìm cái ăn, cái mặc và phải quần quật từng ngày. Nó ước mơ được một ngày nào đó lên Sài Gòn học. Nhưng tất cả chỉ là sự xa vời và khó thực hiện với nó quá. Và với nó, chuyện được ra nước ngoài học lại càng quá xa vời.
Ngày trúng tuyển vào đại học, nó mỉm cười và xách ba lô lên đi, tạm biệt những gì thân quen. Ngày nó nhận giấy báo đỗ đại học, nhà nó không ai vui, không khen hay động viên nó như bao đứa khác, thay vào đó là những giọt nước mắt cố giấu của mẹ, những lời bàn bạc của ba “nghèo thế này tiền đâu mà cho con đi học”. Ngày nhập học, mẹ nó gom góp vay mượn cho nó chút ít tiền để đóng học phí. Khi quen với cuộc sống ở Sài Gòn, nó lao vào đi dạy thêm như một kẻ chăm chỉ để có tiền chi tiêu và đóng học phí.
Nó tất bật với cái nghề mà người ta gọi đó là gia sư. Xôi ngọt là món ăn qua ngày của nó. Ấy vậy mà nó vẫn khỏe, vẫn hết sức dẻo dai và không hề biết ngán. Có lần bạn hỏi nó sao ăn xôi hoài vậy? Nó ừ hử "thì là món khoái khẩu của tao". Và nó biết nếu học tốt, nó sẽ xin được học bổng và có cơ hội ra nước ngoài học mà không phải tốn tiền. Nghe như rất đơn giản, nhưng ai cũng phì cười khi nghe nó nói.
Ngày lại ngày trôi, nó vẫn nung nấu giấc mơ và từng ngày phấn đấu. Nó âm thầm làm hồ sơ xin học bổng, nó mày mò viết đi viết lại cái đơn, nó viết bằng cả sự chân tình và là những dòng rất thật. Nó nộp hồ sơ đi và không mong mỏi gì nhiều, bởi nó mơ nhưng chưa một lần dám nghĩ ước mơ ấy thành sự thật. Một ngày, nó đang hối hả đạp xe đi dạy dưới cái nắng như đỗ lửa của Sài Gòn thì chuông điện thoại reo, nó mở lên nghe, thấy một số lạ, bên kia đầu dây thông báo nó đủ điều kiện nhận học bổng. Nó nghe xong mà mừng rơi nước mắt. Nó muốn nhảy đẩy lên, muốn hét thật to để xé tan những âm ỉ trong lòng bấy lâu. Nó muốn gọi ngay cho mẹ, nhưng mà nó chợt nghĩ, mẹ cũng không ủng hộ nó đâu.
Nó cố đấu tranh tư tưởng và gọi cho mẹ. Nó nghe tiếng thở dài của ba, nghe tiếng rên rỉ của ông. Ông nó đang ốm nặng. Nó rất thương yêu ông. Khi nó còn nhỏ, ông từng ngày cõng nó đi học qua những chiếc cầu khỉ nhỏ bé để đến lớp. Ông hiền từ và luôn cưng chiều nó, dù cả đời ông cũng vất vả, nghèo khó, nhưng vẫn sống rất nhân từ. Ông chính là tấm gương để nó học hỏi và noi theo.
Nó được hẹn lịch phỏng vấn. Ngày nó đi gần kề, nhưng bệnh của ông không khỏi, càng nặng thêm. Nó về bên cạnh ông, ông nắm lấy tay nó, bảo “Con cứ đi học, ông tin con sẽ làm được, hãy cố gắng thực hiện ước mơ của mình, con nhé. Ông sẽ khỏe mau thôi”. Nó nhìn dáng ông gầy đi, giọng nói thều thào, nó khóc. Ông bảo thỏ thẻ bên tai nó “Sao lại khóc, con phải mạnh mẽ lên, cuộc sống một mình xứ lạ, không tiền, không người thân, con phải bản lĩnh mới được”. Nó càng khóc to hơn. Nhưng có lẽ nó phải đi, bao nhiêu là phấn đấu của nó. Ông mỉm cười yếu ớt và xoa đầu nó “chúc cháu của ông sẽ thành công”. Nó gượng cười bảo “ông phải chờ cháu, cháu sẽ mang thành tích về khoe với ông”.
Chào ông, nó đi trong một ngày mưa tầm tả, đường lầy lội. Ký ức về những ngày bé thơ cùng ông cứ hiện về trong nó. Nó thương ông, nhưng không thể ở bên cạnh ông lúc này. Nó tự hứa với lòng rằng một ngày nào đó sẽ mang về cho ông những niềm vui, lẫn tự hào về nó.
Chuyến bay cất cánh, sau hơn hai ngày, nó cũng đặt chân xuống đất Anh, một vùng đất hoàn toàn xa lạ với nó. Nó được bố trí ở trong ký túc xá của trường. Những ngày đầu xa xứ, nó không thể nào ngủ được. Nó luôn nghĩ về khoảng cách quá xa, về ông đang bệnh, về ba mẹ đang từng ngày dãi nắng dầm mưa với đám ruộng, đám mía sau nhà. Nó khóc như một đứa trẻ phải xa ba mẹ. Rồi nó lao đầu vào học như một đứa đói chữ, chỉ là để nén đi những tâm trạng dằn xé trong lòng nó.
Một ngày cuối tuần, trời đổ mưa, lòng nó buồn rười rượi. Nó nghe đâu đó giọng nói của ông “ông nhớ con lắm”. Nhìn những cơn mưa bay ngoài cửa sổ, khiến lòng nó thêm nhớ nhà, nhớ ông và nó cảm thấy cô lạnh, lọt thỏm dưới một không gian rộng lớn bao trùm.
Nó gọi về cho mẹ, mẹ mừng rỡ vì nói ông muốn gặp con. Mẹ đưa điện thoại, nó nghe giọng ông thoi thóp, dặn nó phải giữ sức khỏe, phải ăn uống đàng hoàng, phải cố gắng thật nhiều và ông luôn yêu thương nó. Rồi nó không nghe ông nói gì nữa, nó cố gắng alô thật to, nhưng vẫn không nghe thấy ông nói nữa.
Mẹ giật lấy điện thoại bảo ông mệt, mà nghe giọng có gì đó khàn khàn, như là đang khóc. Nó gặng hỏi, mẹ mới không cầm lòng được và khóc òa bảo "Ông đi rồi". Cõi lòng nó tan nát, làm sao có thể về bên ông lúc này. Nó không có tiền bạc nhiều, nhà cũng không có khá giả. Nó không được nhìn mặt ông lần cuối, không được kể cho ông nghe cuộc sống bên này như thế nào. Nó gào khóc như một đứa trẻ.
Và nó như con thuyền viễn xứ đang trôi lênh đênh giữa những bến bờ xa lạ. Giờ đây, nó mới hiểu cuộc sống tha phương luôn khiến con người ta hoài nhớ cố hương da diết và đau khổ nhất là khi muốn neo mà không thể cập bến cần dừng.
Lê Thị Kim Ngân